eDoctor
eDoctor
eDoctorChia sẻ

Ung thư thận

Là sự phát triển của các tế bào ung thư trong thận. Ở người lớn, ung thư biểu mô tế bào thận là dạng phổ biến nhất của ung thư thận và phát sinh từ các ống thận. Phẫu thuật là biện pháp điều trị chính. Ung thư biểu mô tế bào thận thường không đáp ứng với xạ trị và hoá trị, một số trường hợp đáp ứng với liệu pháp miễn dịch. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: lịch sử gia đình có người bị ung thư thận, huyết áp cao, hút thuốc lá, béo phì, nam giới, đã điều trị lọc máu. Dạng ung thư thận phổ biến ở trẻ em là khối u Wilms.

TRIỆU CHỨNG

Đau bụng, nước tiểu có màu bất thường (đen, màu gỉ sắt hoặc nâu), đau lưng, đái ra máu, sụt cân không rõ nguyên nhân, phì đại bìu, đau sườn, sưng hay phì bụng.

CHẨN ĐOÁN

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Kiểm tra hình ảnh, như siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp X-quang thận qua tĩnh mạch (IVP), động mạch (renal arteriography), để xác định các khối u và mức độ bệnh. Sinh thiết xác định chẩn đoán. Xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC), bảng chuyển hóa toàn diện (CMP), phân tích nước tiểu (UA). Các xét nghiệm bổ sung có thể được yêu cầu.

ĐIỀU TRỊ

Phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần của thận là biện pháp điều trị chính, có thể phải cắt bỏ cả bàng quang và các hạch bạch huyết quanh thận. Xạ trị và hóa trị thường không có hiệu quả, trừ phi các khối u đã được loại bỏ bằng phẫu thuật.

Tổng quan

Định nghĩa

Ung thư thận chiếm 90% các loại u ác tính nguyên phát ở thận. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn trên 40 tuổi, với tỉ lệ nam gấp 2 lần so với nữ giới. Ung thư thận chiếm 1-2% toàn bộ các loại ung thư ở người lớn. Ung thư thận có thể ở thể rải rác và ở thể di truyền. Ung thư thận có thể xuất hiện trên nhiều người trong gia đình và yếu tố di truyền cũng được đề cập đến (khuyết đoạn nhiễm sắc thể 3, chuyển vị của các nhiễm sắc thể 3 - 8).

Nhiều bệnh nhân có hội chứng thần kinh da, như hội chứng Von Hippel Lindau, hoặc bệnh xơ cứng não củ Bourneville có thể có ung thư thận. Những bệnh nhân suy thận được chạy thận nhân tạo nhiều năm có thể có nang thận kèm theo ung thư thận.

Phân loại

Phân loại ung thư thận theo TNM, theo đó:

  • T (tumor: Khối u):
    • Tx: Không xác định được u nguyên phát
    • T0: Không có bằng chứng u
    • T1: U có kích thước < 7cm, khu trú trong thận
    • T2: U có kích thước >7cm, khu trú trong thận
    • T3: U lan ra đến tĩnh mạch lớn hoặc thâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc tổ chức mỡ quanh thận, nhưng chưa lan ra khỏi cân Gerota.
    • T3a: U xâm nhiễm tuyến thượng thận hoặc bao mỡ quanh thận, nhưng chưa xâm lấn cân Gérota.
    • T3b: U xâm lấn vào tĩnh mạch thận hoặc tĩnh mạch chủ dưới cơ hoành
    • T3c: U xâm lấn vào tĩnh mạch chủ trên cơ hoành
    • T4: U xâm lấm ra ngoài cân Gerota.
  • N (node: hạch):Hạch lympho vùng là những hạch ở rốn thận, quanh động mạch và tĩnh mạch chủ bụng. Việc xâm lấn phía đối diện không ảnh hưởng đến tiêu chuẩn phân loại N.
    • Nx: Không xác định được hạch di căn
    • N0: Không có hạch di căn
    • N1: Di căn 1 hạch vùng
    • N2: Di căn nhiều hơn 1 hạch vùng
  • M (metastasis: di căn)
    • Mx: không xác định được di căn xa
    • M0: Không có di căn xa
    • M1: Di căn xa
Nguyên nhân

Nguyên nhân bệnh sinh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, một vài yếu tố được cho là có tác động đến sự xuất hiện ung thư thận:

  • Hút thuốc lá được nhiều tác giả đề cập đến, khoảng 30% nam giới và khoảng 24% nữ giới hút thuốc là bị ung thư thận.
  • Những bệnh nhân dùng nhiều thuốc lợi tiểu có tỉ lệ ung thư thận tăng gấp 3 lần người bình thường, hoặc dùng nhiều thuốc giảm đau chứa phenacetin dường như cũng làm tăng nguy cơ hình thành ung thư thận. Béo phì dường như cũng có mối liên hệ với ung thư thận.
  • Một số chất như amian, thorium dioxide cũng được cho là có liên quan đến sự xuất hiện ung thư thận. Công nhân nghề in, hoặc tiếp xúc với xăng dầu nhiều có nguy cơ ung thư thận cao hơn bình thường.
  • Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy ung thư thận có liên quan đến gen ức chế u, gen VHL. Gen VHL được định vị trên vùng p25 - p26 của nhiễm sắc thể 3.
Nguyên nhân khác

Các triệu chứng tiết niệu thường gặp:

  • Đái ra máu toàn bãi đại thể diễn ra tự nhiên đột ngột. Người bệnh có thể nhìn thấy máu hoặc có thể được phát hiện khi làm xét nghiệm nước tiểu trong thăm khám sức khỏe định kỳ.
  • Đau thắt lưng âm ỉ nặng nề.
  • Khối u ở vùng thận được phát hiện ngẫu nhiên hay siêu âm, hoặc có thể sờ thấy khi khối u phát triển to.
  • Các triệu chứng ít gặp hơn có thể bao gồm:
    • Mệt mỏi
    • Chán ăn
    • Giảm cân
    • Sốt tái đi tái lại
    • Đau ở cạnh lưng không khỏi
    • Huyết áp cao hoặc thiếu máu cũng có thể là dấu hiệu của ung thư thận.

Những triệu chứng này có thể do ung thư hoặc các các tình trạng bệnh khác ít nghiêm trọng hơn gây ra như nhiễm khuẩn hoặc nang thận. Khi thấy xuất hiện các triệu chứng này, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được phát hiện bệnh.

Thông thường, ung thư giai đoạn sớm không gây đau; điều quan trọng là không nên chờ cho đến khi thấy đau mới đến khám bác sĩ. Trong hầu hết các trường hợp, ung thư càng được phát hiện và điều trị sớm thì khả năng hồi phục hoàn toàn của bệnh nhân càng lớn.

Phòng ngừa

Ung thư thận đượcxếp vào nhóm những bệnh ung thư khó chữa trị nhất hiện nay, do đó để tránh tốnkém, thiệt hại về tiền của cho việc chữa trị, chúng ta nên thực hiện một sốbiện pháp phòng ngừa bệnh hiệu quả sau:

  • Từ bỏ thói quen hútthuốc lá và lạm dụng rượu bia
  • Tăng cường vận độngcơ thể thông qua các bài tập thể dục nhẹ nhàng
  • Áp dụng chế độ ănuống cân bằng dưỡng chất, tăng cường rau xanh, trái cây
  • Không tự ý dùngthuốc tây điều trị bệnh
  • Sử dụng thêm cácloại thảo dược tốt cho thận như trà xanh, nấm lim xanh tự nhiên
Điều trị

Nguyên tắc điều trị

  • Phương pháp được chọn lựa là phẫu thuật cắt thận kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, kèm lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch. Đây là phương pháp kinh điển.
  • Cắt bỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều.
  • Di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.
  • Cắt thận một phần: trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.
  • Làm tắc mạch động mạch thận: đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.
  • Tia xạ: áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương.
  • Hoá trị liệu: một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao.
  • Miễn dịch trị liệu: nhiều tác giả hiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả khá tốt.
  • Hormon trị liệu: một số tác giả sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.

Các phương pháp điều trị

  • Cắt thận toàn bộ
    • Chỉ định. Đây là phương pháp được chọn lựa hàng đầu trong điều trị ung thư thận nhằm mục đích chữa khỏi cho bệnh nhân nếu giai đoạn sớm hoặc nhằm mục đích điều trị triệu chứng (đau, đái máu) ở giai đoạn muộn. Ngay cả ung thư thận đã có di căn (hạch, gan, não) cắt thận toàn bộ vẫn có chỉ định nhằm mục đích làm chậm quá trình phát triển của khối di căn, kéo dài đời sống của bệnh nhân.
    • Nguyên tắc: Phẫu thuật bao gồm cắt thận toàn bộ kèm bóc hạch, cắt bỏ tuyến thượng thận, lấy bỏ tổ chức mỡ quanh thận, cắt mạch máu buồng trứng hoặc mạch máu thừng tinh và cắt toàn bộ niệu quản sau khi lấy bỏ huyết khối tĩnh mạch. Đây là phương pháp kinh điển. Đường mổ phải đủ rộng để có thể tiếp cận cuống mạch được dễ dàng và lấy hết được toàn bộ khối u và tổ chức mỡ quanh thận cũng như mạch thận. Đường mổ hay được sử dụng là đường dưới sườn xuyên phúc mạc.
  • Cắt thận không điển hình
    • Cắtbỏ thận để điều trị triệu chứng trong trường hợp chảy máu nhiều hoặc gây đau.
    • Di căn một vị trí cần được phẫu thuật để lấy bỏ.
    • Cắt thận một phần: trong trường hợp ung thư trên 1 thận hoặc u nhỏ.
  • Làm tắc mạch động mạch thận. Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật được.
  • Tia xạ. Chỉ là phương pháp điều trị tạm thời, áp dụng trong trường hợp có di căn vào xương, nhằm mục đích giảm đau.
  • Hoá trị liệu. Một số hoá chất chống ung thư đã được sử dụng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hiệu quả cao và cũng chỉ áp dụng điều trị tạm thời.
  • Miễn dịch trị liệu. Nhiều bác sĩhiện nay đang sử dụng các Cytokin như Interferon, Interleukin để điều trị có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng giá thuốc còn rất đắt.
  • Hormon trị liệu. Một sốbác sĩ sử dụng progesteron, androgen, antiestrogen để điều trị, nhưng hiệu quả chưa rõ ràng.
Bệnh phổ biến
Tải ứng dụng để nhận thông báo Tin tức sức khỏe mới nhất
eDoctor - App StoreeDoctor -  Google Play

Bạn vẫn chưa tìm thấy thông tin mình cần?

Hãy để lại số điện thoại, chúng tôi sẽ tư vấn nhanh nhất cho bạn.