eDoctor
eDoctor
eDoctorChia sẻ

Vảy nến

Là bệnh về da có tổn thương là các dát đỏ có vẩy màu trắng bạc, dày phủ trên bề mặt, gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, dễ bong tróc và giống như giọt nến. Nguyên nhân của rối loạn là do rối loạn hệ thống miễn dịch. Các yếu tố sau làm cho triệu chứng nặng hơn: nhiễm trùng, tổn thương da, căng thẳng, thời tiết lạnh, hút thuốc lá, nghiện rượu và sử dụng một số loại thuốc. Bệnh có tính di truyền. Bệnh có thể gây ra viêm khớp.

TRIỆU CHỨNG

Thường thấy da nổi mảng đỏ ở khuỷu tay, đầu gối, phần thân, hoặc bất cứ nơi nào trên cơ thể. Da khô và phủ vảy màu bạc, da dày lên. Các móng tay trở nên dày và rỗ. Có thể bị đau khớp.

CHẨN ĐOÁN

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Sinh thiết da.

ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu của điều trị là kiểm soát các triệu chứng và ngăn nhiễm trùng thứ phát. Điều trị bao gồm: steroid tại chỗ, các chế phẩm vitamin D, anthralin tại chỗ, retinoids, acid salicylic dạng bôi, thuốc mỡ có chứa nhựa than đá, kem dưỡng ẩm, chiếu đèn, retinoids đường uống, methotrexate đường uống, cyclosporine, hydroxyurea dạng uống và các loại thuốc miễn dịch dạng uống (etanercept / Enbrel, infliximab / Remicade, adalimumab / Humira). Nếu phát ban lan rộng, bệnh nhân có thể cần được điều trị nội trú tại bệnh viện. Dùng thuốc kháng sinh cho các nhiễm trùng thứ phát.

Tổng quan

Là một bệnh về da có tổn thương là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”)

Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số. Bệnh vẩy nến là căn bệnh mang đến gánh nặng thể chất lẫn tinh thần và cả về xã hội. 125 triệu người mắc phải bệnh này trên toàn cầu, trong đó có khoảng 2,5 triệu người Việt Nam.

Bệnh vẩy nến tiến triển lâu dài, nhiều đợt. Có khi sau một thời gian điều trị, bệnh ổn định, nhưng nếu không duy trì chế độ điều trị, sinh hoạt, làm việc hợp lý thì các thương tổn lại tái phát.

  • Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.
    • Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
    • Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh

Nguyên nhân
  • Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền.
  • Ngoài ra, một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập. Đó là các yếu tố: stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường…
  • Một điều khẳng định chắc chắn là bệnh vẩy nến không phải là bệnh lây lan như bao người nhầm tưởng.
Nguyên nhân khác
  • Thương tổn da: Hay gặp và điển hình nhất là các dát đỏ có vẩy trắng phủ trên bề mặt, vẩy dày, có nhiều lớp xếp chồng lên nhau rất dễ bong và giống như giọt nến (Vì vậy có tên gọi là “Vẩy nến”). Kích thước thương tổn to nhỏ khác nhau với đường kính từ 1- 20 cm hoặc lớn hơn.Tuy nhiên, sau một thời gian tiến triển, các thương tổn có thể lan ra toàn thân.
  • Thương tổn móng: Có khoảng 30 - 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân. Các móng ngả màu vàng đục, có các chấm lỗ rỗ trên bề mặt. Có thể móng dày, dễ mủn hoặc mất cả móng.
  • Thương tổn khớp: Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể. Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp. Trong khi đó ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp.
  • Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn… Một số bệnh nhân thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống.
Phòng ngừa

Các biện pháp dựphòng yếu tố khởi phát cũng đóng một vai trò quan trong trong điều trị vảy nến.Liệu pháp tâm lý, tránh stress là cần thiết. Các bác sĩ nên thuyết phục bệnhnhân “chung tay hòa bình” với bệnh, tránh bi quan và giải thích để bệnh nhân cólối sống lành mạnh, sinh hoạt phù hợp, tránh các yếu tố bất lợi làm bệnh dễ táiphát để đạt được ổn định lâu dài.

 

Điều trị

Điều trị tại chỗ:

Bôi các thuốc sau đây

  • Mỡ Salicylé 2%, 3%, 5% có tác dụng bong vẩy, bạt sừng.
  • Mỡ Corticoid: Eumovate, Diprosalic,… có tác dụng chống viêm rất tốt, thương tổn mất rất nhanh. Tuy nhiên, không nên lạm dụng bôi nhiều và dài ngày vì sẽ gây biến chứng làm bệnh nặng thêm.
  • Mỡ có vitamin A axít như: Differin, Isotrex, Erylick...: Có tác dụng bình thường hóa quá trình sừng hóa của da.

Điều trị toàn thân:

Có thể dùng các thuốc sau đây

  • Vitamin A axít: Soritane, Tigasone...
  •  Methotrexate.
  • Cyclosporin...

Các thuốc này có tác dụng rất tốt, nhưng có nhiều tác dụng phụ như có thể gây quái thai, hạ bạch cầu, rối loạn chức năng gan, thận, ... Vì vậy, cần được chỉ định đúng và theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị.

Corticoid và bệnh vẩy nến: Các Corticoid dùng đường uống (Prednisolone, Medrol...) hoặc tiêm tĩnh mạch (Methylprednisolone) đều có tác dụng tốt, nhanh. Nhưng chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp đặc biệt trong một thời gian ngắn và phải được chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Nếu lạm dụng dùng liều cao kéo dài bệnh sẽ tái phát nặng và có thể gây nhiều biến chứng trầm trọng.

Trị liệu bằng ánh sáng (Phototherapy)

Có thể phối hợp các phương pháp trên với chiếu tia cực tím có bước sóng khác nhau (UVA, UVB) cũng có kết quả rất tốt và kéo dài thời gian ổn định bệnh. Đặc biệt, hiện nay phương pháp PUVA (Psoralene Ultraviolet A) đang được áp dụng để điều trị bệnh vẩy nến các thể khác nhau và có kêt quả rất khả quan

Phương pháp sinh học (Biotherapy)

Trong những năm gần đây người ta đã tổng hợp được nhiều chất sinh học có tác dụng tốt trong điều trị bệnh vẩy nến như: Efanecept, Alefacept, Efalizumab, ... Nhiều nước như Mỹ, Anh, Pháp, Úc... đã áp dụng phương pháp này và đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, phương pháp này vừa đắt tiền vừa có một số tác dụng phụ nên chưa được áp dụng rộng rãi.

Một điều vô cùng quan trọng là trong quá trình điều trị cần phải tư vấn cho bệnh nhân. Vì tiến triển của bệnh vẩy nến thất thường, dai dẳng nên cần khuyên bệnh nhân không được lơ là, tự động bỏ thuốc khi thấy thương tổn đã giảm.

Hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị theo từng giai đoạn bệnh, đồng thời phải hạn chế bia, rượu, thuốc lá, tránh các stress và điều trị triệt để các bệnh mạn tính khác nếu có. Có như vậy mới tránh được các biến chứng và bệnh sẽ ổn định lâu dài.

Bệnh phổ biến
Tải ứng dụng để nhận thông báo Tin tức sức khỏe mới nhất
eDoctor - App StoreeDoctor -  Google Play

Bạn vẫn chưa tìm thấy thông tin mình cần?

Hãy để lại số điện thoại, chúng tôi sẽ tư vấn nhanh nhất cho bạn.