Thứ cơ thể ‘kỵ’ nhất vào buổi sáng lại là thứ nhiều người vẫn uống thường xuyên

Theo thuyết dưỡng sinh của Trung y, việc ăn đồ nóng vào buổi sáng không chỉ đơn giản là bảo vệ dạ dày mà còn bao hàm nhiều điều khác nữa.

Bởi vì vào thời điểm sáng sớm, khí âm vẫn tích tụ trong cơ thể mỗi người rất nhiều. Biểu hiện cụ thể là hệ thần kinh, cơ bắp đôi khi còn có trạng thái co rút. Nếu lúc này chúng ta uống nước lạnh thì các hệ thống trong cơ thể càng thêm co lại, mạch máu càng khó lưu thông.

Ấy vậy nhưng nhiều người hiện đang giữ thói quen uống nước lạnh vào buổi sáng… Bình thường uống nước lạnh vào buổi sáng, chúng ta không thấy dạ dày biểu hiện ra điều gì khó chịu. Nhưng một thời gian qua đi nhất là khi đã có tuổi, chúng ta sẽ thấy thân thể mình khó hấp thụ thức ăn, chán ăn, đi ngoài khó khăn, làn da xấu dần, cổ họng có đờm, thường hay bị cảm lạnh. Đây là biểu hiện của việc dạ dày bị tổn thương. Uống nước lạnh còn khiến sức đề kháng trong cơ thể suy giảm. Do đó, nên ăn cháo nóng hoặc cốc bột yến mạch nóng, sữa dê nóng, cốc nước đậu nóng, sữa nóng… vào buổi sáng. Sau đó mới ăn thêm rau quả, bánh mì, hoa quả cùng các món điểm tâm khác.

Theo kết quả chẩn đoán lâm sàng của y học cổ Trung Hoa, nhiều nữ sinh từ nhỏ đã dùng thực phẩm lạnh như kem, coca cola lạnh, trà hồng lạnh như một thực phẩm thiết yếu của cơ thể. Cuối cùng thì các em mắc phải chứng bệnh không xuất hiện kinh nguyệt, tử cung lão hóa, mới 18 tuổi đã mãn kinh. Đây quả là loại bệnh không bình thường của “con gái”.

Có người cho hay, một cô bé bị ung thư xương chỉ vì lạm dụng đồ ăn lạnh. Sau khi đến bác sĩ trung y, em bị nghiêm cấm ăn loại thực phẩm lạnh, điều này đã khiến các bác sĩ tây y không thể tin nổi.

Thêm nữa, người uống nước đá nhiều cũng sẽ bị béo phần bụng dưới. Bởi vì khi chúng ta ăn đá lạnh, nhiệt độ bụng dưới cơ thể sẽ giảm xuống, hệ thần kinh sẽ điều khiển chất béo đến bảo vệ vị trí này và gây nên hiện tượng béo bụng.

Ăn uống đồ lạnh sẽ rất ảnh hưởng đến sức khỏe. Cho dù sức đề kháng là tốt hay không, chúng ta cũng không nên lạm dụng loại thực phẩm lạnh. Đây là một cách để bảo vệ cơ thể.

San San biên dịch

Hiểm họa không ngờ nếu uống sữa sai cách

Sữa là một trong những "siêu thực phẩm" được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu sử dụng sai cách sẽ ẩn chứa rất nhiều nguy hiểm.

Uống sữa quá đặc

Nhiều người cho rằng, sữa đặc có nhiều chất dinh dưỡng hơn sữa tươi. Thậm chí khi cảm thấy sữa tươi quá nhạt, họ pha thêm một chút sữa đặc vào cùng. Tuy nhiên, đây là một quan niệm sai lầm.

Nếu trẻ thường xuyên uống sữa quá đặc, sẽ dễ bị đau bụng, táo bón, biếng ăn hoặc thậm chí cự tuyệt việc ăn uống. Điều này là do hệ tiêu hóa của trẻ còn yếu, không có khả năng tiếp nhận lượng dinh dưỡng quá lớn.

Uống quá nhiều sữa

Theo các nghiên cứu khoa học, cơ thể con người chỉ hấp thụ được một lượng nhỏ của sữa. Vì vậy, uống quá nhiều sữa là điều không cần thiết, thậm chí gây rối loạn tiêu hóa.  Trung bình, một người trưởng thành chỉ nên sử dụng 200 ml sữa mỗi lần uống.

Tích trữ sữa tươi quá lâu sau khi đun sôi

Khi đun sôi, nhiệt độ của sữa ở mức rất cao và dễ bị phân hủy. Nếu đổ vào bình giữ nhiệt ngay, sữa sẽ dễ bị hỏng chỉ sau khoảng từ 3 đến 4 giờ (do cứ mỗi hai mươi phút, vi khuẩn trong sữa sinh sản một lần ). Uống loại sữa này có thể gây đau dạ dày, đau bụng, tiêu chảy,… Vì vậy, sữa đun sôi nên được sử dụng ngay lập tức và không nên được lưu trữ lâu trong bình giữ nhiệt.

Cho đường vào sữa đun sôi

Nếu cho thêm đường vào trong sữa khi đun sôi, các thành phần trong đường sẽ phản ứng để tạo thành chất độc hại, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Nếu muốn uống ngọt hơn, bạn nên đợi đến khi sữa nguội hẳn mới cho thêm đường.

Uống sữa với nước ép trái cây

Nước ép trái cây có chứa nhiều hợp chất tạo vị chua. Khi các thành phần protein trong sữa gặp những chất này, nó sẽ kết tủa tạo ra nhiều thành phần hóa học gây hại cho hệ tiêu hóa.

Đun sữa quá lâu dưới nhiệt độ trực tiếp

Nhiệt lượng lớn trực tiếp tác động trong quá trình đun sôi, có thể gây ra sự ngưng tụ của các protein trong sữa bò. Nhiệt độ cao làm cho canxi photphat trong sữa chuyển từ môi trường axit sang môi trường trung tính, sau đó kết tủa làm mất chất dinh dưỡng và khiến Lactose biến chất. Ngoài ra, khi đun sôi đến 100 độ C, đường trong sữa bắt đầu ngả màu nâu và dần phân giải thành axit lactic, đồng thời sản sinh ra axit formic khiến sữa có vị chua, ảnh hưởng đến mùi vị sữa. Bởi vậy, chỉ nên đun sữa cách thủy trong thời gian vài phút.

Theo Sirhealth

Điện thoại biến thành ổ bệnh khi rời nhà vệ sinh

Nghiên cứu cho thấy 75% người Mỹ mang điện thoại vào nhà vệ sinh. Nhưng các bác sĩ cảnh báo rằng điều này có thể khiến bạn bị nhiễm bệnh từ các loại vi khuẩn.

Trong thời đại công nghệ, hành động mang điện thoại vào phòng tắm, nhà vệ sinh không có gì xa lạ. Trong thực tế, nghiên cứu tiến hành năm 2016 cho thấy 41% người Australia đem điện thoại của họ vào nhà vệ sinh, con số này đối với người Mỹ là 75%.

Tiến sĩ y khoa Anchita Karmakar nói: "Nước và không khí chứa bụi bẩn, vi khuẩn có thể bám vào thành điện thoại và các khe nhỏ li ti. Vỏ bọc điện thoại thường được làm từ cao su hoặc nhựa dẻo trở thành nơi ẩn nấp ấm áp, thoải mái cho vi khuẩn".

Các loại vi khuẩn có thể sinh sống trên chiếc điện thoại bao gồm salmonella, E.coli, shigella và campylobacter, khiến bạn có thể mắc nhiều bệnh nguy hiểm. Ngoài ra, bạn còn phải đối mặt với nguy cơ lây lan virus viêm dạ dày ruột và tụ cầu khuẩn.

Bác sĩ Karmakar khuyên mọi người không nên đem điện thoại vào nhà vệ sinh, đặc biệt là nhà vệ sinh công cộng hoặc phải rửa tay sau khi đi vệ sinh.

Ngoài ra, thói quen sử dụng điện thoại trong khi ăn cũng khiến chúng ta có thể mắc một số bệnh lây truyền qua đường miệng.

Có một số cách giúp đảm bảo vệ sinh cho điện thoại và giảm bớt nguy cơ lây nhiễm bệnh từ chúng.

– Không mang điện thoại vào nhà vệ sinh, đặc biệt là nhà vệ sinh công cộng, hạn chế sử dụng điện thoại khi đang ăn uống.

– Khử trùng điện thoại thường xuyên, đặc biệt là sau khi sử dụng nó trong nhà vệ sinh. Có thể vệ sinh điện thoại bằng các loại khăn lau, thuốc xịt.

– Rửa tay thường xuyên, nhất là khi rời khỏi nhà vệ sinh hoặc sau khi sử dụng điện thoại của người khác.

Theo Nguyên Phương

99% mọi người không biết buổi sáng nên ăn gì để có sức khỏe

Hiện có rất nhiều người coi nhẹ việc ăn sáng, họ không biết rằng, thường xuyên không ăn sáng, dễ dẫn tới viêm dạ dày, sỏi mật, bệnh béo phì.

Theo kết quả một nghiên cứu của trường đại học Erlangen Đức, tuổi thọ của những người không chú trọng bữa sáng thấp hơn nhóm người ăn sáng đầy đủ bình quân 2,5 tuổi. Các nhà nghiên cứu Đại học Harvard đã chứng minh rằng, không coi trọng bữa sáng làm tăng thêm 27% nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nhiều người cho rằng bữa sáng không nên ăn món ăn có chứa nhiều dầu mỡ, không nên ăn các loại thức ăn như bánh quẩy, thực ra một bữa ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng không phải là một bữa ăn kiêng, một bữa ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng có thể giảm nguy cơ mắc các loại bệnh trên. Vậy thì ăn như thế nào? Ăn gì cho bữa sáng? Một đề xuất thực đơn khoa học cho bữa sáng sau đây, mỗi gia đình đều có thể tự thực hiện, rất tốt và tiện lợi dễ thực hiện.

Trước khi ăn sáng nên uống nước

Cơ thể chúng ta trải qua một giấc ngủ dài sau một đêm, sẽ tiêu hao rất nhiều nước và dinh dưỡng, sau khi thức dậy tình trạng sinh lý của cơ thể lúc này rất thiếu nước. Nếu chỉ ăn những món ăn sáng thông thường, không thể bổ sung lượng nước cần thiết đầy đủ cho cơ thể.

Do đó, sau khi tỉnh dậy không nên vội vàng ăn sáng ngay, mà nên lập tức uống từ 500- 800 ml nước đun sôi để nguội, để kịp thời bổ sung lượng nước mất đi qua một đêm của cơ thể, còn có thể hỗ trợ giúp làm sạch đường ruột, nhưng không nên uống quá nhiều nước trước khi ăn sáng.

Sau khi thức dậy 20 phút nên ăn sáng

Ăn sáng luôn khi vừa thức dậy, sẽ ảnh hưởng tới sự nghỉ ngơi của dạ dày và đường ruột, làm cho hệ tiêu hóa ở trạng thái ứng chiến mệt mỏi lâu dài, gây rối loạn tới sự nhịp nhàng của nhu động đường ruột. Vì vậy thức dậy sau 20 -30 phút ăn sáng là thích hợp nhất, bởi lúc này cơn đói của chúng ta là mạnh nhất.

Ngoài ra, khoảng cách giữa bữa sáng và bữa trưa tốt nhất là từ 4-5h. Nếu sáng ăn sáng quá sớm, thì nên tăng thêm lượng tương ứng hoặc thời gian bữa trưa cũng nên điều chỉnh tương ứng.

Bữa ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng phải có 3 loại thực phẩm sau đây

Hội dinh dưỡng đề nghị một bữa ăn sáng hợp lý, trong tổng năng lượng cung cấp cho cơ thể trong 1 ngày lượng carbohydrate cần chiếm khoảng 60%, lượng protein khoảng 10% -14%, chất béo chiếm khoảng 25% -30%

Các món ăn có tinh bột chủ yếu là cơm, bánh bao, bánh mỳ, cháo, bún, phở…; các loại thực phẩm giàu protein là trứng gà, sữa, sữa đậu nành, các sản phẩm làm từ đậu, các loại thịt đã nấu chín…; hoa quả và rau xanh. Lý tưởng nhất là thêm 1 thìa các loại hạt.

Bữa sáng nên ăn các loại thực phẩm chủ yếu từ các loại ngũ cốc là chính

Các món ăn từ các loại ngũ cốc bao gồm cháo, bột mỳ, cơm, bánh mỳ, bánh quy.) Những món ăn này không những chứa hàm lượng đường phong phú, có thể nhanh chóng cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể, cũng giống như một chiếc xe hơi cần có xăng xe mới có thể chạy bình thường.

Một bữa sáng đầy đủ dinh dưỡng, có thể lựa chọn các món ăn chính cho bữa sáng như cơm, cháo, bánh bao, bánh mì nướng, yến mạch…

Bổ sung hoa quả khi ăn sáng

Nếu có thể nên cố gắng bổ sung thêm hoa quả cho bữa sáng, chất lượng sẽ càng tốt hơn! Hoa quả rất giàu vitamin A, C, ngoài ra trong đó còn có chứa vitamin nhóm B, chất xơ và khoáng chất, không những có tác dụng kích thích sự thèm ăn, mà còn có thể thúc đẩy nhu động ruột và để duy trì sự cân bằng acid-base trong cơ thể, ăn hoa quả không những làm đẹp da, mà còn giúp chúng ta rạng ngời có sức cuốn hút hơn vào buổi sáng!

Nên ăn các sản phẩm từ sữa vào bữa sáng

Bữa sáng là cơ hội tốt để bổ sung các loại sữa. Các sản phẩm từ sữa là một trong các loại thực phẩm có chứa hàm lượng protein cao, và rất giàu canxi, trong các loại thực phẩm chúng ta thường ăn, không có loại nào có chứa hàm lượng canxi cao như sữa. Hãy tận dụng bữa sáng để dùng các sản phẩm từ sữa, ví dụ như 1 cốc sữa bò, sữa dê, sữa chua ít đường đều là một sự lựa chọn hoàn hảo.

Sau đây là một vài thực đơn cho bữa sáng phù hợp với các nguyên tắc trên

1. Một ly sữa, 2 lát bánh mỳ nướng mật ong, 2 miếng thịt xông khói chiên, thêm 2 quả trứng chiên.

2. Một ly sữa tách kem, 3 lát bánh mì sandwich, 1 quả chuối, thêm 50g quả hạch khô.

3. Một tô cháo bát bảo gồm các nguyên liệu như gạo tẻ, táo đỏ, lạc, câu kỷ tử, 1 quả táo.

Nhiều người đều bỏ qua một bữa ăn sáng như thế này, mà không biết rằng một bữa ăn như thế này ẩn chứa bên trong là nguồn dinh dưỡng mang lại sức khỏe cho chúng ta.

Phụ Nữ News

6 SAI LẦM KHI NẤU THỊT KHIẾN BẠN RƯỚC BỆNH VÀO NGƯỜI

Để bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình, mọi người không nên để thịt quá lâu trong tủ lạnh rồi mới sử dụng hoặc không được rã đông thịt chưa nấu ở nhiệt độ phòng.

Thịt là nguồn thực phẩm phổ biến trong bữa ăn mọi gia đình nhưng trong quá trình bảo quản, chế biến nếu không được thực hiện đúng cách thì rất dễ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Dưới đây là 6 sai lầm khi nấu thịt mọi người cần tránh để không rước bệnh vào người.

1. Cấp đông quá lâu

Ngày nay, nhiều gia đình thường có thói quen mua một số lượng lớn thịt về rồi bảo quản trong ngăn đá và dùng dần cho tiện, tuy nhiên điều này lại hoàn toàn không khoa học một chút nào. Thực phẩm đông lạnh trong thời gian dài không chỉ mất chất dinh dưỡng, thực phẩm đông lạnh để lâu còn tiềm tàng rất nhiều mối nguy hại đối với sức khỏe.

Cho dù ở trong môi trường nhiệt độ thấp, vẫn có rất nhiều vi khuẩn và yếu tố gây hại xâm nhập vào đồ ăn của chúng ta. Một số loại vi khuẩn còn làm phân hủy thức ăn nếu bạn để trong tủ lạnh quá lâu. Vì thế, rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, đau bụng, đi ngoài, tiêu chảy, tiêu chảy cấp… đã xảy ra do ăn đồ ăn đông lạnh lâu ngày

.

Để tránh các trường hợp ngộ độc do ăn thực phẩm đông lạnh, mọi người cần lưu ý khi bảo quản chúng trong tủ lạnh. Dưới đây là mốc thời gian bảo quản các loại thịt phổ biến:

2. Rã đông thịt chưa nấu ở nhiệt độ phòng

Sử dụng thực phẩm đông lạnh hiện nay rất phổ biến trong các gia đình. Tuy nhiên, việc rã đông thực phẩm không đúng cách sẽ gây hại khôn lường cho sức khỏe.

Đa số mọi người thường rã đông thịt ở nhiệt độ phòng mà không biết rằng cách thức này lại vô tình tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập. Các loại thực phẩm đông lạnh như thịt, cá khi tiếp xúc với nhiệt độ từ 4 độ C đến 60 độ C sẽ rất dễ bị ôi thiu. Vì thế Bộ Y tế và Dịch vụ Con người Mỹ khuyến cáo mọi người tốt nhất nên rã đông thịt sống bằng cách đặt xuống ngăn mát tủ lạnh hoặc ngâm trong nước lạnh.

3. Sử dụng chung thớt thái rau và thịt

Thịt chưa nấu chín sẽ để lại vi khuẩn trên mọi thứ mà nó chạm vào, kể cả thớt, xoong nồi và bàn tay của bạn. Chính vì thế, Cơ quan Kiểm dịch và An toàn thực phẩm thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ khuyến cáo các bà nội trợ không nên chỉ chỉ dùng duy nhất một loại thớt để chặt, băm, thái… tất cả các nguyên liệu, thành phần nấu ăn. Đặc biệt, mọi người cần sử dụng riêng thớt thái thịt và rau.

4. Chiên thịt xông khói trong chảo

Chiên thịt xông khói trong chảo cũng là một trong những sai lầm khi chế biến thịt có thể dẫn tới nguy hại cho sức khỏe. Các chuyên gia đã chỉ ra rằng khi để thịt xông khói tiếp xúc với nhiệt độ cao của dầu ăn sẽ dễ dàng sinh ra độc tố gây ung thư.

Vì thế, cách tốt nhất là bạn hãy nấu chúng trong lò. Bạn hãy đặt thịt xông khói vào một khay nướng có lót lá nhôm rồi cho vào lò khoảng 18 phút. Khi ấy, miếng thịt sẽ có được màu vàng ươm và giòn.

5. Sử dụng thớt gỗ mòn để thái thịt sống

Một số đầu bếp đã cảnh báo việc sử dụng thớt gỗ để thái thịt, gia cầm và hải sản sống bởi vi khuẩn có thể bị kẹt trong các rãnh của thớt. Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, thớt gỗ vẫn là loại tốt nhất để băm chặt thịt. Bạn vẫn có thể dùng miễn là luôn khử trùng thớt sạch sẽ trước và sau khi thái.

6. Sử dụng nước nóng để rã đông thịt

Nhiều người mất kiên nhẫn khi phải rã đông thịt bằng ngăn mát tủ lạnh hoặc sử dụng nước lạnh. Thay vào đó họ nghĩ đến việc rã đông bằng cách đặt chúng gần bếp hoặc ngâm vào nước sôi, tuy nhiên cách làm này hoàn toàn sai lầm. Bởi khi gặp nhiệt độ cao, bề mặt của thịt hình thành một lớp màng cứng, ảnh hưởng đến sự khuếch tán nhiệt độ trong miếng thịt, tạo cơ hội cho các loại vi trùng, vi khuẩn sinh sôi nảy nở, làm thịt bị biến chất.

Đại Kỷ Nguyên

LỢI ÍCH KHÔNG NGỜ CỦA CHOCOLATE ĐỐI VỚI SỨC KHỎE

Người Hy Lạp cổ coi chocolate là thức uống của các vị thần, giúp con người tăng cường trí nhớ, sự tập trung, sức đề kháng, tốt cho thai nhi.

Được chế biến từ hạt cây cacao, chocolate là nguyên liệu làm nên nhiều loại kem, bánh, kẹo và đồ uống… Mỗi ngày có hàng triệu người già trẻ, nam nữ trên thế giới sử dụng chocolate vì yêu thích hương vị thơm ngon, cùng nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe.

Tăng cường trí nhớ

Chocolate giúp tăng tuần hoàn máu tới các khu vực quan trọng của não, cải thiện trí nhớ. Nghiên cứu của Đại học Y Harvard cho thấy, uống 2 ly chocolate nóng mỗi ngày giúp não bộ khỏe mạnh, minh mẫn.

Chiết xuất lavado từ cacao trong chocolate giúp giảm các tổn thương thần kinh thường thấy ở bệnh nhân mắc Alzheimer. Chất này làm chậm lại quá trình suy giảm trí nhớ, chứng đãng trí, hay quên ở người lớn tuổi.

Các thí sinh đang ôn thi căng thẳng có thể ăn chocolate hàng ngày để học tập hiệu quả hơn. Một nghiên cứu công bố trên Tạp chí khoa học Appetite (Mỹ) chỉ ra rằng, ăn chocolate ít nhất một lần mỗi tuần sẽ cải thiện chức năng nhận thức, ghi nhớ và học tập.

Bảo vệ tim mạch

Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Heart (Mỹ) năm 2015, theo dõi ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đối với sức khỏe lâu dài của 25.000 người cho thấy, tiêu thụ khoảng 100g chocolate mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ.Chocolate là món quà được các cặp đôi tặng nhiều nhất trong ngày lễ tình nhân Valentine. Thế nhưng, ít ai biết rằng ngoài mục đích chinh phục trái tim nửa kia, thì chocolate còn mang lại nhiều lợi ích cho tim mạch. Thực phẩm này giúp giảm đáng kể cholesterol xấu (LDL) trong máu. Thường xuyên ăn chocolate có chứa thành phần sterol thực vật và flavanol làm giảm cholesterol, cải thiện huyết áp và tăng cường sức khỏe tim mạch.

Đột quỵ là căn bệnh nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao. Thế nhưng, chocolate có thể giúp bạn ngăn ngừa đột quỵ. Các nhà khoa học Canada đã tiến hành nghiên cứu trên 44.489 người và kết luận rằng, ăn chocolate giúp giảm 22% nguy cơ mắc chứng đột quỵ so với không dùng. Người từng đột quỵ nếu thường xuyên ăn chocolate sẽ giảm thiểu nguy cơ tử vong tới 46%.

Cung cấp năng lượng

Những lúc dạ dày "biểu tình" vì đói, một tách chocolate nóng hay thanh chocolate đen là món ăn nhẹ, đơn giản để bạn nạp năng lượng tức thì. Chọn loại chocolate chứa nhiều cacao (khoảng 70%) và càng ít đường, càng có lợi cho sức khỏe. Chocolate đen nguyên chất nếu ăn vừa phải mỗi ngày sẽ giúp bạn duy trì chất lượng cuộc sống.Khẩu phần ăn của các vận động viên thi đấu thường có chocolate. Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Society of Sports Nutrition (Mỹ) giải thích rằng, ăn chocolate đen hàng ngày giúp cải thiện thành tích và sức bền trong quá trình luyện tập thể thao.

Có lợi cho thai nhi

Các bà mẹ thường hạn chế cho con ăn chocolate vì sợ bé sâu răng. Tuy nhiên, đây lại là thực phẩm lý tưởng trong thời gian mang thai. Nghiên cứu công bố tại hội nghị sản khoa của Hội Y học Bà mẹ và Thai nhi tại Atlanta (Mỹ) kết luận, ăn 30g chocolate mỗi ngày trong thai kỳ giúp kích thích sự tăng trưởng và phát triển của thai nhi.

Phòng bệnh tiểu đường

Bánh kẹo, đồ ngọt vốn là khắc tinh của bệnh tiểu đường, song chocolate thì ngược lại. Nếu mỗi ngày nhấm nháp khoảng 40g chocolate, bạn sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Chocolate đen có nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe, nhưng chocolate sữa ngọt ngào và giàu năng lượng lại hợp khẩu vị mọi người hơn. Lời khuyên dành cho bạn là nên ăn chocolate mỗi ngày, chọn loại chứa nhiều cacao và ít đường có lợi cho sức khỏe.

Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn
Viện Y học Ứng dụng Việt Nam

Bộ Y tế khuyến cáo bệnh tay – chân – miệng đang lan rộng

Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần chủ động các biện pháp phòng chống dịch bệnh, tăng cường sức khỏe cho con trẻ, nhằm tránh dịch bệnh lây lan và hạn chế các biến chứng nguy hiểm.

Đã ghi nhận gần 2.100 ca bệnh tay – chân – miệng

Mới đây, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) vừa cho biết tính đến nay đã ghi nhận gần 2.100 trường hợp mắc bệnh tay – chân – miệng tại 57 tỉnh, thành phố. Riêng tại TP.HCM, trong những ngày nghỉ Tết vừa qua đã ghi nhận hơn 30 ca mắc bệnh tay – chân – miệng. Dù không ghi nhận sự xuất hiện của các ổ dịch trong cộng đồng và trong trường học, do bệnh tay – chân – miệng đang lưu hành trên diện tương đối rộng nên nhiều người lo ngại nếu gặp điều kiện thuận lợi nguy cơ bệnh tăng cao có thể xảy ra.

Nguyên nhân gây bệnh là do các loại vi rút thuộc nhóm đường ruột, gồm có Coxsackie, Echo và các vi rút đường ruột khác, trong đó hay gặp là vi rút đường ruột týp 71 (EV71) và coxsackie A16. Vi rút EV71 có thể gây các biến chứng nặng. Theo các chuyên gia y tế, bệnh tay – chân – miệng là căn bệnh thường gặp ở trẻ em, dễ lây lan vì trẻ có ít kháng thể hơn người lớn và ít khả năng miễn dịch khi tiếp xúc. Đây là một bệnh nhiễm virus cấp tính, lây truyền qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn.

Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, chán ăn, mệt mỏi và thường xuyên bị đau họng. Một hoặc hai ngày sau khi khởi phát sốt, xuất hiện đau trong miệng, có đốm đỏ như phỏng rộp và sau đó trở thành vết loét. Vết loét thường nằm trên lưỡi, nướu răng (lợi) và niêm mạc má. Phát ban trên da, không ngứa trong 1-2 ngày với những đốm màu đỏ khổng nổi hoặc nổi lên, có khi có rộp da. Ban thường nằm trong lòng bàn tay và lòng bàn chân, cũng có thể xuất hiện trên mông hoặc ở cơ quan sinh dục.

Người bị bệnh tay – chân – miệng có thể không biểu hiện triệu chứng, hoặc có thể chỉ có phát ban hoặc chỉ loét miệng. Trong một số ít trường hợp, bệnh có thể diễn biến nhanh với các triệu chứng về thần kinh, hô hấp và nhanh chóng dẫn đến tử vong.

Bệnh rất nguy hiểm cho trẻ nếu bố mẹ phát hiện trễ và không điều trị kịp thời. Nguy hiểm hơn là bệnh có thể để lại biến chứng như viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong. 

Xà phòng chính là "thuốc" điều trị bệnh tay – chân – miệng 

Trước sự gia tăng số ca mắc bệnh tay – chân – miệng, nhiều trường, đặc biệt là các trường mầm non tại  TP.HCM đã và đang tiến hành nhiều biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh cho các bé. Các trường mầm non đã sử dụng dung dịch cloramin để tẩy rửa lớp học, dụng cụ dạy học, đồ chơi, bếp ăn rồi đổ dung dịch đó xuống cống để diệt muỗi.

Ngoài ra, để phòng bệnh, các trường cũng lưu ý phụ huynh cần thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy mạnh cho mình và cho các bé, giữ vệ sinh để đảm bảo vệ sinh chung cho trẻ em.

Tại Hà Nội, nhiều phụ huynh cũng ý thức được mức độ nguy hiểm của bệnh tay – chân – miệng đã tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh.

Chị Nguyễn Hòa Bình (32 tuổi, ngụ quận Thanh Xuân) chia sẻ: "Tầm này năm ngoái, cháu thứ hai nhà tôi, mới được 2 tuổi cũng bị bệnh tay – chân – miệng. Ban đầu, cháu nổi các mụn nước nhỏ ở ngón tay, bàn tay, sau đó trong miệng cũng xuất hiện các vết đỏ như phỏng rộp. Sau khi biết cháu đã mắc bệnh tay – chân – miệng, tôi chịu khó vệ sinh sạch sẽ cho cháu bằng cách cho cháu súc miệng nước muối, rơ lưỡi hàng ngày, tay chân cũng được rửa bằng xà phòng luôn giữ sạch sẽ.

Nhờ vậy, sau vài ngày tình trạng bệnh của cháu đã đỡ và không phải ở lại bệnh viện để điều trị. Năm nay, để đề phòng dịch bệnh, tôi chủ động tăng cường các biện pháp phòng ngừa mà ngày trước các bác sĩ đã dặn trước cho yên tâm".

Theo các chuyên gia y tế, cho đến nay căn bệnh này vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ lây nhiễm bệnh có thể được giảm thiểu bằng việc thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và chăm sóc y tế kịp thời cho những trẻ em bị bệnh.

Để chủ động phòng chống bệnh tay – chân – miệng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân và cộng đồng cần thực hiện rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.

Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng.

Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường. Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh. Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và các chất thải của bệnh nhân phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh. Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh, cần đưa trẻ đi khám hoặc thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất. 

Thuận Thắng

2 năm trước khi phát bệnh ung thư có thể có những dấu hiệu này

Nếu biết lắng nghe cơ thể, mỗi người có thể tự nhận biết, phát hiện ra được những triệu chứng sớm của căn bệnh nguy hiểm – ung thư để phòng ngừa và chữa trị. Bởi trong cơ thể mỗi người đều có các tế bào có khả năng dẫn đến ung thư khi có điều kiện “thuận lợi”.

Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ thông qua 7 chữ cái trong từ CAUTION (cảnh báo) để giúp mọi người nhận biết sớm 7 dấu hiệu của ung thư giai đoạn đầu.

C: Thay đổi thói quen đại tiện và tiểu tiện.

A: Trên người có vết thương không thể lành được.

U: Chảy máu hoặc mủ bất thường.

T: Xuất hiện u, cục hoặc bị cứng hơn ở vú, tinh hoàn hoặc bộ phận nào khác trên cơ thể.

I: Tiêu hóa kém hoặc nuốt bị nghẹn.

O: Mụn, nốt ruồi, vết loét ở miệng bỗng có kích cỡ, màu sắc, hình dạng, độ dày thay đổi bất thường.

N: Ho liên tục hoặc bị khàn giọng.

Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác cảnh báo căn bệnh ung thư nữa như:

Liên tục bị đau đầu

Giảm cân hoặc chán ăn bất thường.

Xương hoặc một bộ phận nào đó của ở thể thường xuyên bị đau nhức.

Thường xuyên bị mệt mỏi, buồn nôn hoặc nôn.

Thường xuyên bị sốt nhẹ.

Dễ bị nhiễm trùng, bị lặp đi lặp lại.

Quỳnh Chi

Những thực phẩm nên ăn và nên tránh khi bị thủy đậu

Đang là đầu xuân, mùa của bệnh thủy đậu nên rất nhiều người bị mắc bệnh. Việc ăn uống đúng cách sẽ giúp người bệnh mau hồi phục sức khỏe, tránh biến chứng khi bị thủy đậu.

Triệu chứng bệnh thủy đậu:

Bệnh thủy đậu là do virút Varicella Zoster gây ra. Bệnh thường xuất hiện vào cuối đông đầu xuân, kéo dài sang hè.

Bệnh nhân thủy đậu có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, 24 – 48 giờ sau bắt đầu sốt. Đến ngày thứ 3, bắt đầu phát ban trên da, mới đầu là mụn rát đỏ, sau vài giờ, nốt nổi phỏng trên da.

Mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 – 24 giờ. Mụn nước có kích thước từ l – 3mm, chứa dịch trong, ở những trường hợp nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi khuẩn, mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.

Biến chứng phổ biến nhất của bệnh là nhiễm trùng da có thể dẫn đến sẹo. Những vết sẹo này thường là sẹo lõm trên da, gây mất thẩm mỹ và thường lưu lại đến hết đời. Thủy đậu rất dễ lây lan trong cộng đồng.

Các thực phẩm nên tránh

Người bị thủy đậu tuyệt đối không được ăn lươn

Trong lúc bị bệnh, nên tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ, tránh ăn thức ăn nóng và có tính bổ dưỡng quá.

Những người đang bị bệnh thủy đậu nên tránh ăn các loại gia vị cay nóng như: gừng, hành, tỏi, hành tây, tỏi tây, ớt, hạt tiêu, thì là, cà ri, mù tạt, rau mùi, các loại thịt như thịt dê, thịt chó, thịt gà, thịt ngan, ngỗng, lươn, các loại hải sản (tôm, cua, sò, ốc…), trái vải, long nhãn, mận, xoài chín, mít, hồng, anh đào, rau muống, các chất nhiều béo như hạt dẻ, đậu phụng rang, hạt dưa rang, đậu chiên, các loại bánh rán, các thức ăn chiên xào, mỡ động vật…

Kỵ nhất là nhục quế, vì nhục quế có tính đại nhiệt, thuần dương, tác dụng ôn nhiệt trợ hỏa, quá khô táo, làm tổn hại âm chất, rất nguy hiểm cho bệnh nhân thủy đậu.

Thực phẩm nên ăn

 

Người bị thủy đậu nên ăn uống thực phẩm giàu vitamin C để tăng sức đề kháng

Người bị thủy đậu nên dùng thức ăn thanh đạm, đầy đủ các chất dinh dưỡng và dưới dạng thức ăn lỏng hoặc nửa lỏng, dễ tiêu hóa, như cháo đậu xanh, cháo củ năng-ý dĩ, cháo củ năng – lá tre non, cháo gạo lứt, cháo kim ngân hoa, cháo tiểu mạch, cháo miến đậu xanh, măng tây, trứng, chuối, đậu đỏ, đậu xanh, đậu đen, khoai tây, cà rốt, củ cải trắng, bí đao, rau bồ ngót, rau sam, rau má, mướp đắng, rau dền, cải thảo, cải bắp, rau diếp, ngải cứu.

Dùng thực phẩm chứa nhiều vitamin C như: chanh, cam, bơ, dâu tây, kiwi, lê, dưa hấu, dưa leo, cà chua…Vitamin C có tác dụng giúp tăng cường sức đề kháng, chống nhiễm trùng, đẩy nhanh quá trình sản sinh ra collagen, phòng ngừa sẹo lõm.

Sau khi lành bệnh, các vết thương bắt đầu khô miệng và lên da non, nên sử dụng nghệ tươi ngay lúc này để trị sẹo lõm sau thủy đậu.

Cách làm: rửa sạch củ nghệ, cạo nhẹ lớp vỏ bên ngoài để phần nước từ bên trong được tiết ra. Thoa nước này đều xung quanh vùng sẹo mỗi ngày một lần trước khi đi ngủ, để qua đêm và rửa sạch vào sáng hôm sau, rồi sau đó tiếp tục bôi lên một lớp khác.

Người bệnh thủy đậu nên ăn bí đao, mướp đắng, khoai tây, cải bắp, ngải cứu,…

Nước tam đậu, cam thảo:

Đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, mỗi thứ 100g, cam thảo bắc 2g.

Nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, chia 2 – 3 lần cho trẻ uống trong ngày.

Các món canh ngon từ rau ngót và thịt heo.

Canh thanh nhiệt:

Đậu xanh, củ năng, rễ tranh, đọt tre non, cà rốt, mỗi thứ 20 – 30g. Nấu với 1 lít nước, sắc còn 650ml, chia 2 lần cho trẻ uống trong ngày (nếu trẻ bị suyễn, ho, thì không dùng củ năng và cà rốt).

Món canh này có tác dụng tư nhuận, hạ hỏa, rất có ích cho người bị thủy đậu, sốt cao, người nóng bứt rứt.

Nước kim ngân hoa:

Kim ngân hoa 10g, nước mía 20ml. Nấu với 500ml nước, sôi khoảng 10 phút. Ngày uống một lần, uống liên tục 7 – 10 ngày, để giúp sơ phong thanh nhiệt, hạ sốt.

Kim ngân hoa

Cháo đậu đỏ, ý dĩ:

Ý dĩ nhân 20g, đậu đỏ 30g, thổ phục linh 30g, gạo tẻ 100g.

Tất cả rửa sạch, nấu với lương nước thích hợp thành cháo. Chia ăn 3 lần trong ngày, với ít đường cát trắng hoặc đường phèn.

Món cháo này có tác dụng giải độc trừ thấp, đặc biệt thích hợp cho thủy đậu đã được ra, nhưng vẫn còn sốt, nước tiểu vàng đỏ, người mệt mỏi, chán ăn.

Cháo đậu đỏ

Cháo đậu, thịt heo:

Gạo tẻ 80g, đậu đỏ 30, đậu xanh 30g, thịt heo băm nhỏ 50g. Tất cả nấu với lượng nước thích hợp thành cháo nhừ. Dùng ăn vào lúc đói bụng.

Món cháo này dễ tiêu, rất tốt cho người bệnh thủy đậu, có sốt nhẹ.

Nước rau sam:

Khi bị thủy đậu, có thể dùng rau sam tươi 100 – 120g, rửa thật sạch, ép lấy nước, uống trong ngày.

Nước rau sam có tác dụng giải nhiệt, kháng viêm, ngừa mụn nhọt, rất tốt cho người bị thủy đậu.

Lương y Đinh Công Bảy

 

Những “lỗi” khiến thai nhi chậm phát triển, chào đời nhẹ cân hơn bé khác

Từ chế độ dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe cho tới thói quen sinh hoạt hàng ngày của mẹ bầu đều có thể dẫn tới việc sinh con nhẹ cân.

Em bé chỉ có trọng lượng dưới 2,5kg khi chào đời như vậy được xếp vào tình trạng nhẹ cân sơ sinh. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, dưới đây là những lý do chủ yếu:

1. Sinh non

Trẻ chào đời trước 37 tuần thì được xem là sinh non. Thông thường, thai nhi tăng cân nặng rất nhanh vào những tuần cuối. Dó đó, nếu bị sinh sớm, nghĩa là trẻ có ít thời gian hơn để phát triển trong bụng mẹ. Do đó, trẻ dễ bị nhẹ cân, khó tăng cân. 

2. Đa thai

Nếu mẹ bầu mang đa thai, như sinh đôi, sinh ba, sinh tư… thì cân nặng sơ sinh của mỗi trẻ có thể nhẹ dưới mức bình thường – 2,5kg. Bởi lẽ các thai nhi phải chia nhau nguồn dinh dưỡng từ cơ thể mẹ, không gian trong dạ con cũng nhỏ hơn. 

3. Huyết áp cao

Huyết áp cao ở mẹ bầu có thể khiến lượng máu lưu thông tới tử cung để nuôi dưỡng thai nhi sẽ bị cản trở. Kết quả là trẻ chào đời có cân nặng chưa tới 2,5kg.

4. Mẹ bầu hút thuốc, uống rượu bia

Tiêu thụ nhiều nicotine, chất gây nghiện hay rượu bia trong quá trình mang thai sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi, gây tình trạng trẻ sinh nhẹ cân. Những yếu tố kể trên sẽ giải phóng ra loại chất hóa học độc hại trong dạ con, hạn chế lượng ô-xy cung cấp giúp thai nhi kém phát triển. 

5. Tiểu đường

Mẹ bầu tiểu đường thường sinh con có cân nặng lớn hơn bình thường, nhưng ở một vài trường hợp lại gây ra sinh sớm. Điều đó đồng nghĩa trẻ sinh nhẹ cân do thiếu tháng có thể xảy ra.

6. Nhiễm trùng trong quá trình mang thai

Hiện tượng nhiễm trùng trong quá trình mang thai không phải hiếm gặp. Những triệu chứng đó, cùng với thuốc để điều trị sẽ có tác động lớn đến trọng lượng của thai nhi.

7. Chế độ dinh dưỡng không hợp lý

Nếu mẹ bầu không tăng đủ cân nặng như yêu cầu tối thiểu trong thai kỳ vì dinh dưỡng không hợp lý hoặc thiếu dinh dưỡng, trẻ cũng phải đối mặt với nguy cơ sinh nhẹ cân. 

Đặc biệt vào những tuần cuối, thai nhi phát triển rất nhanh, nên nhu cầu về dinh dưỡng cao. Nguồn thực phẩm mẹ bầu tiêu thụ là rất quan trọng. 

8. Các vấn đề liên quan tới tử cung

Những mẹ bầu có bất kỳ vấn đề gì bất thường liên quan tới tử cung ví như nhau cài răng lược hoặc tiền sản giật đều làm tăng nguy cơ sinh con nhẹ cân. Do những yếu tố trên tác động tiêu cực tới lượng máu, dinh dưỡng được chuyển đến cho thai nhi. 

9. Thai phát triển chậm

Thai nhi mắc hội chứng phát triển chậm phần lớn đều chào đời với tình trạng nhẹ cân cho dù ở trong bụng mẹ đủ tháng. Nguyên nhân của việc thai phát triển chậm có thể là do lối sống của mẹ hoặc các vấn đề về gen. 

10. Bất thường ở cổ tử cung

U xơ cổ tử cung hoặc những vấn đề liên quan tới cổ tử cung đều hạn chế sự phát triển của thai nhi.

Eva.vn